8. Mười Tông Phái Phật Giáo Ở Trung Hoa (Thiền Tông)

8. Thiền tông

A. Mở Đầu

Thiền tông thuộc cả Đại Thừa và Tiểu Thừa. Cũng như bao nhiêu tông phái khác trong Phật Giáo, vị khai sáng đầu tiên của Thiền tông vẫn là đức Phật. Trước Ngài, sự tham thiền nhập định của các ngoại đạo không phải là không có. Nhưng đến Ngài, phương pháp thiền định mới đạt đến chỗ rốt ráo. Như chúng ta đều biết qua lịch sử cúa Ngài, sau khi xuất gia, đức Phật đã trải qua nhiều năm đi tìm đạo và tu khổ hạnh, nhưng vẫn chưa đạt được đạo quả như ý muốn. Ngài tự bảo cái đạo ấy không phải đi tìm đâu xa mà chính phải tìm trong trí tuệ sáng suốt của Ngài . Và từ đó, luôn trong 49 ngày đêm dưới cội Bồ Đề, Ngài đã ngồi tham thiền nhập định cho đến khuya mồng 8 tháng chạp âm lịch, lúc sao mai vừa mọc thì Ngài “Minh tâm kiến tính”, chứng được đaọ quả Bồ đề. Đó là một cuộc nhập định vô tiền khoáng hậu, mở đầu cho một pháp môn vô cùng hiệu nghiệm của đạo Bồ đề. Và từ đấy về sau, một tông giáo riêng đã được thành lập. Đó là Thiền tông.

I. Sao gọi là Thiền tông?

Thiền tông là một tông phái của Phật giáo lấy pháp môn tham thiền nhập định làm căn bản tu hành.

Chữ "Thiền " là do chữ "Thiền-na", một tiếng Phạn, phiên âm theo tiếng Trung Hoa và dịch nghĩa là định lự (định các tự lự). Hiệp chung cả tiếng Phạn và tiếng Trung Hoa, thành ra chữ Thiền định.

Có chỗ giải: Chữ “Thiền”, xưa dịch tư là “tư duy”, nay dịch là “Tịnh lự”. Tư duy có nghĩa là suy nghiệm, nghiên cứu, suy tầm đối tượng của tâm thức (tức là chỉ) để cho tâm thể được sáng tỏ.

Chữ "Định" nguyên tiếng Phạn là Samadhi, người Trung Hoa phiên âm là Tam muội, nghĩa là tập trung tư tưởng vào một cảnh duy nhất không cho tán loạn.

Hợp hai chữ Thiền và Định, chúng ta có một nghĩa chung như sau: Tập trung tư tưởng vào một đối tượng duy nhất, không cho tán lọan, để cho tâm thể được vắng lặng, tâm dụng được sáng tỏ, mạnh mẽ, đặng quan sát và suy nghiệm chân lý.

Phương pháp thiền định có hai cách:

1.Tham cứu về lý thiền, để cầu minh tâm kiến tính, tỏ ngộ đạo quả, nên gọi là “Tham thiền”, như tham cứu câu thoại đầu (câu nói thiền) v.v..

2. Tập trung tư tưởng để quan sát cho sáng tỏ chân lý về một vấn đề gì như quán bất tịnh, quán từ bi v.v..nên củng gọi là " Quán tưởng".

Có chỗ gọi là tu “Chỉ quán” hay tu “Định tuệ”. Chỉ là đình chỉ các vọng tưởng, không cho khởi động, tức là định. Quán là quan sát cho sáng tỏ một vấn đề gì tức là Tuệ.

"Chỉ" là nhân, mà "Định là quả.

“Quán" là nhân, mà "Tuệ " là quả.

II. Chủ Trương Của Thiền tông

Tất cả chúng sinh, trải qua bao đời kiếp, phải trôi lăn trong biển khổ sinh tử luân hồi vì bị vô minh mê hoặc.

Tại sao lại có vô minh mê hoặc? Chúng ta hằng ngày bị thất tình (1), lục dục (2), bát phong (3), xuy động, làm cho tâm tính chúng ta phải bị mờ ám; cũng như ngọn đèn bị thổi leo lét, không sáng tỏ được, để phá tan cái hắc ám ở chung quanh và soi sáng cảnh vật. Đèn tâm của chúng ta không giờ phút nào chẳng bị gió lục trần (4) làm chao động. Vì đèn tâm chao động (không định) nên ánh áng trí tuệ không thể tỏa ra; và ánh sáng trí tuệ không tỏ sáng, nên khỗng xé tan được mây vô minh hắc ám ở chung quanh và không chiếu soi chân lý của vũ trụ.

(1) Thất tình: Mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn.

(2) Lục dục: Những sự tình dục do lục căn sinh ra.

(3) Bát phong: Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc.

(4) Lục trần: Sáu trần cảnh là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Vậy hành giả muốn rõ chân lý của vũ trụ, muốn được minh tâm kiến tính thành Phật, thì phải phá trừ mây vô minh hắc ám. Muốn phá trừ vô minh hắc ám, hành giả phải làm sao cho đèn trí tuệ của mình được sáng tỏ. Muốn thế hành giả phải tu thiền định. Tâm có định, mới phát sinh trí tuệ. Trí tuệ có phát sinh mới phá trừ được vô minh hắc ám, và với minh tâm kiến tính thành Phật.

Mới nghe qua chủ trương của Thiền tông, chúng ta thấy không có gì mới lạ, và tưởng là dễ dàng quá; nhưng khi thực hanh thì lại không phải dễ dàng như thế. Trái lại, phép tu thiền định rất khó, phải thường có thiện hữu tri thức dắt dẫn, phải tốn rất nhiều công phu và kiên nhẫn, phải trải qua một thời gian lâu dài, mới thu được kết quả.

B. Các Loại Thiền Định

Thiền định có nhiều loại, nhiều thứ. Có thứ chính, thứ tà, có thứ sâu, thứ cạn, có thứ thiền của ngoại đạo, có thứ thiền của phàm phu, có thứ thiền của Tiểu thừa, có thứ thiền của Đại thừa.

Hãy nghe Ngài Tông Mật Thiền sư dạy: “Người muốn cầu Thánh đạo, tất phải tu thiền”. Chân tính không có dơ và sạch, thánh và phàm. Song thiền định có cạn và sâu, từng bậc không đồng:

- Người tà kiến, chấp trước sao lạc, ưu cõi trên, chán cõi dưới mà tu Thiền là ngoại đạo thiền;

- Người chính tín nhân quả, nhưng cũng dùng sự ưa cõi trên chán cõi dưới mà tu thiền, là phàm phu thiền;

- Người biết rõ lý “ngã không” mà tu thiền là Tiểu thừa thiền;

- Người ngộ được lý “ngã, pháp đều không” mà tu thiền, là Đại thừa thiền;

- Người đốn ngộ tự tâm, xưa nay vốn thanh tịnh, không có phiền não, đầy đủ trí tuệ vô lậu, tâm ấy tức là Phật, rốt ráo không khác; y theo tâm ấy mà tu thiền là Tối Thượng thừa thiền, cũng gọi là “chân như tam muội”.

Vì thiền có nhiều loại khác nhau như thế, nên trước khi muốn thực hành cho đúng đắn chúng ta cần biết sơ lược các lối tu thiền, để khỏi lạc vào đường nguy hiểm.

I. Ngoại Đạo Thiền

Trong phần ngoại đạo thiền này, chúng tôi muốn nói đến các loại thiền của ngoại đạo như đạo Tiên, đạo Bà la môn, các lối thôi miên, và những tà thiền định với mục đích không chân chính.

Sao gọi là không chân chính?

Theo quan niệm của đạo Phật thì những hành động gì không nhằm mục đích trau dồi tâm tính, dẹp trừ phiền não hữu lậu, để cầu giải thoát sinh tử luân hồi, đều không là chân chính. Dựa vào quan niệm trên mà phê phán thì những tà thiền định hay những loại thiền định của ngoại đạo đều không chân chính; vì những người tu theo lối thiền định này chỉ nhằm mục đích cầu được sống lâu, cầu được khỏe mạnh, được thần thông biến hóa để dạo chơi thế giới, được những phép lạ, huyền bí để cám dỗ, mê hoặc người, hay được thần tiên để hưởng lạc thú tiêu diêu nơi tiên cảnh...

Bởi họ dụng tâm không chân chính, tu phương pháp không chân tính, nhắm mục đích thiển cận, bề ngoài và bị các phiền não tham, sân, si, làm động cơ thúc đẩy, nên các loại thiền của họ không rốt ráo và toàn thiện được. Trước tiên chúng ta hãy nói đến các tà thiền định.

1. Tà thiền định: Đọc các loại sách xưa, chúng ta thường nghe nói đến các loại cầm thú như: bạch xà, chồn cáo, qui, khỉ, vượn...tu luyện lâu năm trong rừng sâu núi thẳm, cuối cùng củng có những phép thần thông, biến hóa. Nhưng mục đích của chúng là cầu cho được nhiều phép tắc để được gần phụ nữ, nhiễu hại nhân dân, hớp hồn hớp vía người lương thiện, để thỏa mãn thú tính. Đó là những loài yêu tinh quỷ quái, mà ngày nay theo con mắt nhà khoa học thì khó có thể tin được là có. Nhưng có lẽ những người xưa muốn đặt ra câu chuyện yêu tinh quỷ quái như thế, để ngụ ý các loài thú, nếu tu luyện lâu năm củng có thể phép thuật hơn người. Nhưng bởi chúng thiếu lòng nhân, thiếu thiện tâm cho nên phép thuật càng cao cường bao nhiêu càng gây tai họa bấy nhiêu.

Chúng ta củng thường nghe thầy phù thủy luyện thiên linh cái (đầu lâu). Họ cũng tập trung tư tưởng, luyện phép tịnh tâm, và khi thành tâm, và khi thành công cũng sai được âm binh bộ hạ, được ma quỷ mách bảo cho các việc quá khứ, vị lai ...mà cũng tác oai không ít.

Đó cũng là do tu định cả, nhưng bởi dụng tâm tà, nên gọi là thiền định, và kết quả là có hại cho mình và nhân quần xã hội.

Chúng ta hãy nghe lời Phật dạy Ngài A-Nan trong kinh Lăng nghiêm về các lối tà thiền định:

“A-Nan! Nếu ông tu thiền định mà không đoạn lòng dâm, thì quyết đọa vào ma đạo, bậc thượng thành ma chúa, bậc trung thành ma dân, bậc hạ làm ma nữ. Vì gốc của nó là dâm, thì làm sao khỏi sinh tử luân hồi được?”.

“A-Nan! Nếu ông tu thiền định mà không đoạn đoạn tâm sát hại, thì chỉ đạo vào thần đạo; bậc thượng thành đại lực quỉ, bậc trung làm phi hành dạ xao và các quỉ tướng soái, bậc hạ làm địa hành La sát và các quỉ thần”.

“A-Nan! Nếu ông tu thiền định mà không đoạn trừ tâm trộm cướp thì quyết đọa vào tà đạo; bậc thượng thành loài yêu tinh, bậc trung làm ma quỉ, bậc hạ làm người tà bị các tà ma nhập (đồng bóng)”.

2. Thiền định của đạo Tiên: Theo các kinh sách của đạo tiên để lại, như kinh Huỳnh Đình, hay bộ Tính mạng khuê chỉ v.v..thì con người sở dĩ sống được và minh mẫn là nhờ có đử ba món: tinh, khí và thần. Tinh, khí là chủ cúa xác thân; Thần là chủ của mạng sống. Hễ tinh thần lục dục quá mạnh thì tinh khí hao mòn: tinh khí hao mòn thì thân bị che lấp tối tăm, con người mất sáng suốt. Vì thế cho nên phải trừ dục tình để dưỡng tinh, luyện khí cho thân được cởi mở và phát hiện.

“Tiên đạo cho rằng khắp giáp thân thể con người đều có những cái huyệt, tức là những lỗ thông khí âm dương; huyệt ở chót bàn chân gọi là chi âm; huyệt ở đỉnh đầu là thiên thông. Khí đi trở lên là dương khí, khí đi xuống là âm khí.

Người tu tiên cốt luyện cho âm khí mất đi, chỉ còn cái khí thuần dương đi lên đỉnh đầu, tức là có thần thông và đắc đạo. Vì sao phải trừ bỏ khí âm? Bởi vì âm khí là trược khí, làm cho nặng nề, tối tăm, ưa thích điều dâm dục , làm hao tổn tinh thần. Hễ tinh thần hoằng dương tổn thì cái thần là cái linh động sáng suốt nhất, cũng là cái thông hiệp với trời đất, bị bế tắc". Vậy nên, kẻ phàm là kẻ còn nặng khí âm, còn bậc tiên chỉ còn là khí thuần dương mà thôi.

''Để luyện khí, người tu tiên có nhiều phép tu gần giống như phép tọa thiền, nghĩa là ngồi ở một nơi thanh tịnh, rồi tập luyện các phép như: ''Tọa công'', ''Giao thiên trụ'', ''Thiệt giải thấu yết''.v.v…

Tóm lại những người tu theo đạo này, nếu chuyên tâm trị chí tập trung tư tưởng, luyện ''Tinh'' hóa ''Khí'', luyện ''Khí'' hóa ''Thành'', sau khi đã thuần thục, cũng được năm phép thần thông biến hóa. Họ trở thành tiên, có thể xuất thần bay đi dạo chơi các thế giới. Hoặc họ hứng nước mặt trăng, luyện linh đan để trị bệnh hay để uống cho được trường sinh bất tử thành địa tiên.

Những vị tiên này, rất tiếc là ngày nay, chúng ta không được thấy nên không dám chắc là có hay không. Nhưng dù có có đi nữa, thì trên lý thuyết, các vị này vì chưa được lậu tận thông, ''phiền não hữu lậu chưa hết'' nên khi phiền não rối lên họ cũng bị đọa trở xuống, khi trường hợp ông Uất Đầu Lâm Phách, hay ông Độc Giác Tiên Nhân.v.v...Hơn nữa dù họ có luyện cái thân mình cho được trường sinh bất tử cũng không thể toại nguyện được, vì cái thân này là tứ đại giả hiệp, tất phải bị luật vô thường chi phối, không thể sống vĩnh viễn được. Nó lại chứa các vật bất tịnh thì dù có cưng dưỡng cho mấy rốt cuộc rồi cũng bị tan rã. Bởi lẽ đó người tu hành phải xem nó như cái bè đưa qua sông, khi qua sông rồi, chẳng nên mến tiếc cái bè mà chẳng chịu lên bờ.

Trong bộ Qui nguyên Trực chỉ, có kể chuyện ông tiên Lữ Đồng Tân, học trò của Tiên Hán Chung Ly, sau khi đấu phép với Ngài Huỳnh Long Hòa thượng bị thua, ông đã bỏ đạo Tiên theo đạo Phật. Lý do sự đầu Phật là vì ông Lữ Đồng Tân tự nhận thấy mình đã dụng tâm sai và đã đi lầm đường tu hành. Do đó, ông đã làm bài thơ sau đây để nói lên sự sai lầm của ông:

Nguyên văn:

Khí khước biều nan, kích tý cầm

Như kim bất luyến hống trung câm

Từ tùng nhất kiến Huỳnh Long hậu

Thì giác tùng tiên thố dụng tâm

Dịch nghĩa:

Bỏ lầu Linh dược ném đàn cầm.

Tôi nay chẳng tiếc nước miếng vàng (1)

Từ khi gặp Huỳnh Long hòa thượng

Mới biết từ trước dụng tâm sai.

(Xem quyển Lữ Đồng Tân đầu Phật)

Chú thích:

(1) Nước miếng vàng: Đối với người tu tiên, thì nước miếng rất qúy,  họ không bao giờ nhổ vì sợ tổn khí, và dùng nước miếng của mình để luyện thành linh dược

3. Luyện Du già (Yoga): Yoga là một danh từ Ấn, gốc là chữ Yuj; Tàu dịch là Du già, nghĩa đen là “tự đặt mình dưới một cái ách”; nghĩa bóng là ''tự trói buộc cả tinh thần, thể xác vào một quy luật khắc khe'' tự kiềm chế mình theo một kỷ luật đặc biệt, mà mục đích là tập trung toàn thể thân tâm làm một với bản thể của trời đất.

Du già cũng gọi là thuật luyện khí của Ấn Độ, gần giống thuật luyện khí của đạo Tiên. Theo thuyết Du già, trong thân thể con người có rất nhiều huyệt; trong số ấy có bảy huyệt từ hậu môn lên tới đỉnh đầu là quan trọng nhất. Bảy huyệt ấy nằm dài theo xương sống, và có một đường lên một đường xuống thông nhau. Vì sự si mê và các thứ dục vọng che lấp cho nên bảy huyệt ấy bị chướng ngại, khiến cho cái ''chân quả'' từ dưới ''hỏa hậu'' (chỗ hậu môn) không thể lên được. Nhất là vì thân thể không luyện tập, xương sống bị cong đi, các huyệt do đó bị bế tắc. Vậy muốn cho hỏa hậu (tức là cái thần lực trong con người) được thông qua các huyệt, lên tới đỉnh đầu thì phải chú tâm luyện cho xương sống giãn ra, các khớp xương được thông và thẳng.

Để đạt được mục đích nói trên, người luyện Du già phải tập nhiều tư thế, như tư thế ''giãn lưng '' tư thế ''lưỡi cày'', tư thế ''trồng chuối'' (trút đầu xuống dưới, trở chân lên trên trời), để cho hỏa hậu lưu thông tới đỉnh đầu.

Ngày nay Du già được phổ biến qua các nước Âu -Mỹ, gần như một phong trào. Phần đông cho đó là một phương pháp thể dục, để luyện cho thân thể được khỏe mạnh, trí tuệ được sáng suốt, để tính toán và làm việc được nhiều và hiệu quả. Một số người đi xa hơn, muốn luyện Du già để được sống lâu, trẻ mãi, vượt ra khỏi những sự đòi hỏi của xác thân đầy dục vọng, thoát ra ngoài những nỗi lo âu, sợ sệt hằng ngày và sống một cuộc đời an vui, tự tại. Lại có một hạng người khác mong rằng Du già sẽ làm cho họ khám phá những năng lực tiềm tàng ẩn núp trong con người và làm cho họ trở thành những nhân vật phi thường, có những thần thông biến hóa, phép mầu chước lạ, họ cũng tập trung tư tưởng, định tâm chú ý như các lối tu thiền định; ngoài ra họ còn có tu tập một cách rất khổ sở, hành hạ thân xác, bắt nó chịu đựng những thử thách cực độ, như phơi nắng dầm sương, ngồi trên chông gai, đứng bằng hai tay, treo chân lên cổ, nhịn đói, nhịn khát,v.v...đó là những đạo sĩ người Ấn Độ thường gọi là ''pha-kia'' (fakir).

Những người này khi tu đến mức độ cao, cũng có được những phép lạ, như dao chém không đứt, đâm không thủng, nhai ve chai, uống axit không sao, nằm ngủ một giấc luôn trong 3 tháng không ăn, không uống .v.v...

Nhưng dù họ thành công bao nhiêu đi nữa, thì cũng không thể thoát ngoài vòng trần tục liễu sinh thoát tử và minh tâm kiến tính được.

4. Luyện thôi miên. Đây cũng là một lối tu thiền của ngoại đạo, hiện nay rất thịnh hành trên thế giới. Nguyên tắc của phương pháp tu luyện này cũng là vận dụng tập trung tư tưởng vào một chỗ để cho tinh thần có sức mạnh sai khiến được sự vật. Người tập thôi miên, lúc mới đầu ngồi yên một chỗ, nhìn chăm chú vào một chấm đen vẽ ở trên tường, để cả tâm trí tập trung vào đó, ngoài ra không còn để ý vào một sự vật gì ở chung quanh nữa. Họ ngồi tập hàng giờ như thế, bao giờ tinh thần không còn tán loạn nữa, và có đủ sức mạnh để sai sử kẻ khác là họ thành công. Những người thôi miên giỏi, có thể dùng thôi miên để trị lành bệnh hay sai sử những người khác làm những chuyện phi thường, như xuất thân đi đến một xứ khác để thăm bà con, kể lại việc quá khứ hay tiền thân của một người khác.v.v...

Tóm lại, nhờ luồng điện tinh thần đã được tập trung thành sức mạnh, người thôi miên có thể bắt người khác làm những việc kỳ lạ theo ý muốn của mình. Nhưng vì lợi dụng, tâm không chân chính, chỉ tham cầu những điều huyền bí, mầu nhiệm bên ngoài, không lo dẹp trừ phiền não, hữu lậu, trau dồi tâm tính bên trong, để được minh tâm kiến tính nên không phải là chính đạo. Đến khi phiền não hữu lậu nổi lên hoặc nhiễm sắc tham tài v.v... thì các thần thông, diệu dụng đều mất hết. Bởi thế nên Phật dạy các đệ tử: ''Ngộ được đạo thì tự nhiên sẽ có các thần thông. Nếu được thần thông mà chưa ngộ được đạo thì thần thông ấy có khi bị mất''.

II. Phàm Phu Thiền

Phàm phu thiền cũng gọi là thế gian thiền. Sở dĩ gọi là phàm phu hay thế gian thiền là vì các pháp thiền này chưa có thể đưa hành giả ra ngoài tam giới, chưa chứng được thánh quả, mà vẫn còn quanh quẩn trong vòng phàm phu hay thế gian. Các pháp như Tứ thiền, Tứ không v.v... đều thuộc phàm phu thiền.

1. Tứ thiền tức là 4 giai đoạn tham thiền của phàm phu, đi dần từ chỗ nhàm chán cái vui thô thiển đến cái vui vi tế thanh tịnh. Bốn giai đoạn tham thiền này tuần tự diễn tiến như sau:

a. Sơ thiền, ly sinh hỷ lạc. Hành giả khởi đầu bằng tâm lý nhàm chán cái ô trược của cõi Dục, và mong cầu được xa lìa (ly) được cái ô trược của Dục giới, hành giả sinh vui mừng (sinh hỷ lạc). Đó là kết quả của giai đoạn tham thiền đầu tiên (sơ thiền).

b. Nhị thiền, định sinh hỷ lạc. Nhưng cái vui nói trên, lại làm cho tâm chao động, cần phải dứt trừ; vì thế hành giả phải vào định. Khi định có kết quả, cái vui mừng thô phù của sơ thiền chấm dứt và cái vui mừng vi tế trong định lại nảy sinh; vì thế cho nên gọi là “Định sinh hỷ lạc”.

c. Tam thiền, ly hỷ diệu lạc. Cái vui mừng ở cõi nhị thiền mặc dù vi tế, nhưng vẫn còn làm cho tâm rung động, vì thế hành giả lai cần bỏ cái vui mừng ở cõi nhị thiền. Khi bỏ được cái vui mừng này, thì một nỗi vui mầu nhiệm khác lại phát sinh; vì thế cho nên gọi"Ly hỷ diệu lạc".

Trong các kinh thường chép: Cõi tam thiền là vui hơn hết (diệu lạc), vì ở các cõi dưới thì chỉ có vui thô động, còn ở các cõi trên thì chủ là tịch tịnh, không còn vui nữa.

d. Tứ thiền, xả niệm thanh tịnh. Ở cõi tam thiền, tuy đã hết cái vui thô động của Sơ thiền và Nhị thiền; nhưng vẫn còn cái vui mầu nhiệm. Nhưng hễ còn niệm vui, thì tâm chưa hoàn toàn thanh tịnh. Hành giả lại phải còn tiến lên một bậc nữa, đi vào cái thiền thứ tư, xả luôn cả cái niệm vui, để tâm được hoàn toàn thanh tịnh, vì thế nên gọi là"Xả niệm thanh tịnh".

2. Tứ không định. Sau khi đã trải qua Tứ thiền và đã thành tựu viên mãn, hành giả tiếp tục tu thiền định và sẽ trải qua bốn giai đoạn gọi là Tứ không định sau đây. Sở dĩ gọi là Tứ không, vì khi vào bốn định này, thiền giả sẽ không còn thấy có cảnh thức tâm nữa.

a) Không vô biên xứ định. Thiền giả khi đã đạt được tứ thiền, tâm đã được hoàn toàn thanh tịnh, nhưng vẫn còn thấy có sắc giới, còn thân còn cảnh và bị hình săc trói buộc, nên sinh tâm nhàm chán. Để rời bỏ các hình sắc về thân và cảnh, thiền giả vào định thứ nhất của Tứ không, thể nhập với "Hư không vô biên", tức là không thấy có ngăn cách, có biên giới của cảnh.

b) Thức vô biên xứ định. Thiền giả khi đã định thứ nhất của Tứ không, rời bỏ được sắc tướng của thân và cảnh, thấy được cái vô biên của hư không, nhưng vẫn còn giữ cái bản ngã hẹp hòi, vẫn còn thấy biên giới của tâm thức; khi thành tựu, tức thể nhập được vào cõi"Thức vô biên".

c) Vô sở hữu xứ định. Thiền giả, mặc dù không còn thấy biên giới, ngăn cách của thức nhưng vẫn còn thấy có ngã, có tâm thức, có năng sở; mà hễ còn thấy năng sở, tức còn thấy mình và người, còn thấy có sở hữu. Vậy thiền giả phải vượt lên một tầng nữa, xa lìa sự chao động, năng sở, tức nhập định"Vô sở hữu xứ" (cõi không sở hữu).

d) Phi tưởng, phi phi tưởng xứ định. Thiền giả khi đã nhập định"Vô sở hữu", không còn thấy nhân ngã, năng sở, nhưng vẫn còn "tưởng". Mà còn tưởng thì còn vọng động. Vậy thiền giả phải tiến lên một tầng nữa, vào cõi "Định không tưởng". Nhưng không tưởng đây, không có nghĩa là vô triều vô giác như đất đá; không tưởng, nhưng không phải không tưởng của đất đá, Không tưởng mà vẫn sáng suốt như một tấm gương, nhưng không phải là một tấm ván hay mặt đá. Đó là ý nghĩa của cõi định" Phi tưởng, phi phi tưởng".

Có chỗ nói định "Tứ không" thuộc về ngoại đạo, nhưng người tu thiền, bắt đầu từ Sơ thiền đến Tam thiền, lúc bấy giờ có hai con đường rẽ: Một con đường đi về ngũ A-na-hàm (1) ở cõi Tứ thiền (2) thuộc về cảnh giới của thánh thứ ba (3); một con đường đi về Tứ không của cõi Vô sắc, thuộc về ngoại đạo.

(1) Ngũ A-na-hàm là năm cõi A-na-hàm: a) Vô phiền, b) Vô nhiệt, c) Thiện kiến, d) Thiện hiện, đ) Sắc cứu cánh.

(2) Tứ thiền có chín cõi ngoài năm cõi A-na-hàm, còn có bốn cõi: Vô vân, phước sinh, quảng quả, vô tưởng.

(3) Tiểu Thừa Thanh văn có bốn quả thánh A-na-hàm thuộc quả thánh thứ ba.

III. Nhị Thừa Thiền

Nhị Thừa hay Tiểu thừa thiền, thuộc về xuất thế gian thiền, nghĩa là các người tu theo các loại thiền này có thể vượt ra ngoài thế gian, thoát được sinh tử luân hồi. Tuy thế, pháp tu thiền này không đem lại một kết quả mau lẹ, lớn lao toàn diện như các lối Đại thừa thiền, mà chỉ có tính cách chậm chạp, tuần tự, cuộc bó, tu một pháp chỉ trừ được phiền não; nghĩa là chứng quả thấp nhỏ, có hạn lượng, nên thuộc về Nhị thừa thiền (Nhị thừa thiền là Thanh văn thừa và Duyên giác thừa).

Nhị thừa thiền có rất những phương pháp tu, như Ngũ đình tâm quán, Thập thất thế xứ quán, Bát hồi quả, Bát thắng xứ quán, Cửu tưởng quán, Thập lục đặng thắng, Lục diệu pháp môn, Tứ vô lượng tâm, Thông minh thiền, Bát niệm, Thập tưởng, Tứ đệ định, Sư tử phấn tấn, siêu việt tam muội, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Tóm lại, hành quả của Nhị thừa thiền có thể đem giáo lý của một hay những pháp môn của Nhị thừa để tham sát tham thiền.

Trong phạm vi hẹp hòi của bài phổ thông này, chúng tôi không thể nói hết tất cả pháp môn tu thiền của Nhị thừa được, xin nói sơ lược một ít phương pháp. Nếu hành giả muốn đi sâu vào con đường tu này, phải chuyên môn học tập, phải nhờ minh sư dạy bảo, phải trải qua nhiều thời gian và nhiều công phu tu tập mới thành công.

1. Ngũ đình tâm quán

- Quán sổ tức, trừ tâm toán loạn

- Quán bất tịnh, trừ tâm tham sắc dục

- Quán từ bi, trừ tâm sân hận

- Quán nhân duyên, trủ tân si mê

- Quán giới phân biệt, trừ tâm chấp ngã.

(Xem Phật học phổ thông, khóa thứ IV)

2. Cửu tưởng quán

a. Tưởng thây sình tướng

b. Tưởng thây hoại diệt

c. Tưởng máu mủ chảy

d. Tưởng thây rục rã

đ. Tưởng thây xanh chàm

e. Tưởng thây bị giòi rúc rỉa

ê. Tưởng thây tan rã

g. Tưởng còn lại đống xương

h. Tưởng xương bị đốt tiêu.

3. Tứ vô lượng tâm

a. Tâm từ vô lượng: Thiền giả vờ mở rộng lòng Từ vô lượng, bao bọc chúng sinh trong tình thương rộng lớn vô biên.

b. Tâm bi vô lượng: Thiền giả vờ mở rộng lòng Bi vô lượng, cứu khổ cho chúng sinh trong năm đường.

c. Tâm hỷ vô lượng: Thiền giả vờ mở rộng tâm Hỷ (hoan hỷ) vô lượng, làm cho chúng sinh đều được Hỷ.

d. Tâm xả vô lượng: Thiền giả vờ mở rộng lòng Xả vô lượng, không lưu luyến cố chấp một việc gì.

Tứ vô lượng tâm là một pháp môn rất linh nghiệm: Phàm phu tu tứ vô tâm lượng, thì sau khi mạng chung sẽ sinh làm vua ở cỏi Tứ thiền; Nhị thừa tu Tứ vô lượng tâm, thì công đức được tăng trưởng, mau đặng Niết bàn, Bồ Tát tu Tứ vô lượng tâm thì lòng từ bi mở rộng vô biên và làm lợi ích cho chúng sinh không xiết kể.

(Xem Phật học phổ thông, khóa thứ IV)

4. Thập lục đặc thắng

Thập lục đặc thắng tức là mười sáu phép rất đặc biệt thù thắng, có thiền có quán, có đủ các thiền và có thể phát sinh ra quả vô lậu, không phải như Tứ thiền, Tứ không, không ra khỏi sinh tử. Mười sáu phép đặc biệt thù thắng này là:

a. Biết hơi thở vào

b. Biết hơi thở ra

c. Biết hơi thở dài ngắn

d. Biết hơi thở thắp thân

đ. Trừ các thân hạnh

e. Thọ hỷ

ê. Thọ lạc

f. Thọ các tâm hạnh

g. Tâm tác hỷ

h. Tâm tác nhiếp

i. Tâm tác giải thoát

k. Quán vô thường

l. Quán xuất tán

m. Quán ly dục

n. Quán diệt

o. Quán phí xả.

5. Thông minh thiền

Thông minh thiền tức là tham thiền để được lục thông và tam minh.

a. Lục thông tức là sáu phép thần thông như: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạng thông, lậu tận thông.

b. Tam minh tức là thiên nhãn minh, thiên nhĩ minh, lậu tận minh.

6. Thập nhất thế xứ quán

Thập nhất thế xứ quán tức là phép quán mười món biến khắp các xứ sở, sau đây:

a. Quán sắc xanh, khắp giáp tất cả chỗ

b. Quán sắc vàng, khắp giáp tất cả chỗ

c. Quán sắc đỏ, khắp giáp tất cả chỗ

d. Quán sắc trắng, khắp giáp tất cả chỗ

đ. Quán đất, khắp giáp tất cả chỗ

e. Quán nước, khắp giáp tất cả chỗ

ê. Quán gió, khắp giáp tất cả chỗ

g. Quán lửa, khắp giáp tất cả chỗ

h. Quán hư không khắp giáp tất cả chỗ

i. Quán thức tâm, khắp giáp tất cả chỗ

7.  Bát bối xả quán:

Bát xả quán tức là tám phép quán có thể trái bỏ (bối xả) cảnh giới Tứ thiền, tứ định của thế gian, để thành tựu pháp xuất thế gian. Tám phép bối xả quán là:

a. Trong có sắc tướng, ngoài quán sắc để trái bỏ cảnh giới Sơ thiền.

b. Trong không sắc tướng, ngoài quán sắc, để bỏ cảnh giới Nhị thiền.

c. Quán thanh tịnh để trái bỏ cảnh Tam thiền và Tứ thiền.

d. Quán trái bỏ Hư không vô biên xứ.

đ. Quán trái bỏ Thức vô biên xứ

e. Quán trái bỏ Vô sớ hữu xứ

ê. Quán trái bỏ Phi tưởng, phi phi tưởng xứ.

f. Quán trái bỏ diệt thọ tưởng.

8. Bát thắng xứ quán

“Thắng” có nghĩa là thù thắng, là hơn. Tám phép quán này về cảnh sở quán, cũng như công đức thu thập được trong khi thu hành, đều thù thắng hơn tám món Bối xả trên, nên gọi là ''Bát thắng xứ quán'''.

a. Trong có sắc tướng, ngoài có ít sắc, thắng xứ.

b. Trong có sắc tướng, ngoài quán nhiều sắc, thắng xứ

c. Trong không sắc tướng, ngoài quán ít sắc, thắng xứ

d. Trong không sắc tướng, ngoài quán nhiều sắc, thắng xứ

đ. Quán sắc xanh, thắng xứ

e. Quán sắc vàng, thắng xứ

ê. Quán sắc đỏ, thắng xứ

f. Quán sắc trắng, thắng xứ

9. Lục diệu pháp môn

Lục diệu pháp môn là sáu phép môn mầu nhiệm sau đây:

a) Số. b) Tùy. c) Chỉ. d) Quán. e) Hoàn. f) Tịnh.

(Xem quyển Lục Diệp pháp môn)

10. Bát niệm xứ

Với phép quán tám niệm sau này, thiền giả sẽ trừ đượcsự sợ hãi khi tu cửu tưởng và sẽ được đạo quả

a) Niệm Phật. b) Niệm pháp. c) Niệm tăng. d) Niệm giới. f) Niệm xả. g) Niệm hơi thở ra vào. h) Niệm chết (nhớ chết).

11. Thập quán tưởng

Thập quán tưởng gồm có:

a). Tưởng vô thường, b). Tưởng khổ, c), Tưởng vô ngã , d). Tưởng ăn vật bất bình, đ). Tưởng thế gian không vui, e). Tưởng chết, f). Tưởng bất tịnh, g). Tưởng đoạn, h). Tưởng lìa, i). Tưởng hết.

12. Cửu thế đệ định

🔔 Vào dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương — ngày 25, 26 và 27/04/2026 — tại thánh địa Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên (Tam Đảo, Phú Thọ) linh thiêng, một pháp hội chưa từng có sẽ diễn ra:
 
🌸 PHÁP HỘI ĐẠI BI QUAN ÂM 2026
🕊️Cầu nguyện Quốc thái Dân an • Hòa bình Thế giới
 
🙏 Do Đức Gyalwang Drukpa — bậc Thượng sư được tôn kính là Hoá Thân của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát — đích thân chủ trì.
 
🌐 Xem chương trình Pháp hội, giải đáp thắc mắc và đăng ký tham dự tại đây